DI SẢN VÙNG TRÀ HOÀNG LIÊN SƠN

Dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc đã biết đến cây trà đầu tiên trong lịch sử loài người. Người Việt Nam đã uống trà từ ngàn năm nay, điều này đã được chứng mình đầy thuyết phục bằng những dữ liệu lịch sử, tư liệu khảo cổ, tác phẩm văn học, các truyền thuyết, phả lục, nhân chứng, vật chứng và Hoàng Liên Sơn là trung tâm nguồn gốc của cây trà thế giới. Cây chè cổ thụ hoang dã đã được tìm thấy ở hơn 300 địa điểm tại 15 tỉnh và các vùng trên cả nước.

Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện đang có hơn 1.100.000 cây chè cổ thụ mọc hoang dã được tìm thấy dãy núi Hoàng Liên Sơn với những cá thể lão trà hàng ngàn tuổi còn tới ngày nay.

Điều này chứng minh rằng Việt Nam là nơi phát tích cây trà của thế giới, nơi đầu tiên trong lịch sử loài người sử dụng và trồng cây chè. Việt Nam cũng được đánh giá đang có số lượng cây chè hoang dã lớn nhất được lưu giữ của nhân loại.

Lịch sử nguồn gốc:

Dãy núi Hoàng Liên Sơn nằm giữa sông Hồng và sông Đà thuộc phía tây bắc của Việt Nam, có chiều dài 180km từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Hòa Bình, chiều ngang chân núi rộng nhất khoảng 75km, hẹp là 45km theo hướng tây bắc – đông nam. Đây là vùng đất sinh tụ của người Việt cổ cách đây hơn 4000 năm từ thời tiền Hùng Vương. Dãy núi Hoàng Liên Sơn xưa kia thuộc bộ Tân Hưng, là một trong 15 bộ của Nhà nước Văn Lang, ngày nay thuộc địa phận 3 tỉnh là Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu. Dãy núi gồm ba khối: Khối Bạch Mộc Lương Tử, khối Fansipan và khối Pú Luông, Cảnh quan hùng vĩ nhất của dãy Hoàng Liên Sơn là đỉnh Fansipan cao 3.143 m. Cả “mái nhà” đồ sộ này là nơi khởi nguồn của hàng trăm dòng suối lớn nhỏ với hàng chục con thác đẹp kỳ vĩ. Khu vực Hoàng Liên Sơn có khí hậu á nhiệt đới núi cao với hệ động vật, thực vật phong phú, đa dạng trong đó có nhiều loài quý hiếm và nhiều sinh cảnh đặc hữu. Theo đánh giá của các nhà khoa học, đây là một trong những trung tâm đa dạng sinh vật vào bậc nhất của Việt Nam, đặt biệt là hệ thực vật rừng trong đó các quần thể chè hoang dã cổ thụ được coi là viên kim cương của rừng Hoàng Liên Sơn. Những quần thể chè cổ thụ rêu mốc  lẫn trong mây mù lượn lờ, chúng sống như thể “hóa thạch” âm thầm cả triệu năm, trường tồn và thách thức thời gian trên nền vùng trà có từ thời cổ đại của Việt Nam. Theo các ghi chép lịch sử, trà ở núi ở núi rừng Hoàng Liên Sơn đã được người Việt cổ phát hiện và sử dụng cách đây khoảng 4000-5000 năm từ thời tiền Hùng Vương, và trà cổ thụ hoang dã ở núi Hoàng Liên Sơn là nguyên liệu chủ yếu để sản xuất trà cống phẩm cho nhà Vua trong các triều đại phong kiến.

Năm 1960, ông M.K Djemukhatze chuyên gia hàng đầu về nghiên cứu chè của thế giới, Viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm Khoa học Liên Xô (cũ), sau những nghiên cứu về sự tiến hóa của cây chè, bằng cách phân tích thành phần catechin trong chè mọc hoang dại ở các vùng chè ở Tứ Xuyên, Vân Nam (Trung Quốc), Ấn Độ và các vùng trà cổ của Việt Nam trong đó có vùng trà cổ trên núi Hoàng Liên Sơn, đã kết luận; “…cây chè cổ ở Việt Nam, tổng hợp các catechin đơn giản hơn nhiều cây chè ở Vân Nam; cây chè ở Vân Nam chất catechin phức tạp hơn nhiều cây chè Việt Nam, như vậy là một loại hình tiến hóa sau cây chè Việt Nam”, từ kết quả nghiên cứu ông đưa ra sơ đồ tiến hóa hóa sinh của cây chè thế giới như sau:

Camelia > Thea wetnamica (chè Việt Nam) -> Thea fuinamica (chè Vân Nam lá to) -> The sinensis (chè Trung Quốc lá nhỏ) -> Thea assamica (chè Assam Ấn Độ).

Trong nhiều năm nghiên cứu nhiều vùng trà cổ, ông đã viết cảm nhận của mình về cây chè cổ ở dãy núi Hoàng Liên Sơn ông viết “Tôi đã đi qua 120 nước có cây chè trên thế giới nhưng chưa thấy ở đâu có cây chè lâu năm như ở dãy núi Hoàng Liên Sơn, phải chăng đây là nơi phát tích của cây chè? Chè ở đây độc đáo, trong bát nước chè xanh có đủ 18 vị đầu đẳng của chè thế giới”.

Với kết quả nghiên cứu sự tiến hóa của cây chè, Viện sĩ Djemukhatze đã đề xuất tên khoa học mới cho cây chè thế giới là Thea wetnamica (chè gốc Việt Nam) thay cho tên khoa học Thea sinensis (chè gốc Trung Hoa).

Vùng di sản trà cổ thụ hoang dã Hoàng Liên Sơn

Vùng di sản trà Hoàng Liên sơn có diện tích 68.569ha bao gồm đỉnh Fansipan cao nhất Đông Dương, trên dãy Hoàng Liên Sơn, ở độ cao từ 1.000-3.143m so với mặt biển và trải rộng trên địa bàn 6 xã: San Sả Hồ, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai và Mường Khoa, Thân Thuộc, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

Vùng trà Hoàng Liên Sơn nằm ở vùng núi cao nhất Việt Nam nên địa hình chia cắt mạnh, theo cả chiều ngang và chiều dọc, sườn núi dốc, có nhiều nơi dốc đứng.

Trải qua hàng triệu năm kiến tạo, địa chất ở đây gồm các đá trầm tích biến chất và sự xâm nhập của đá granite chạy dọc thung lũng Mường Khoa ở phía Tây Nam, phía Đông Bắc có nhiều đá cẩm thạch và đá vôi, trên mặt còn lưu giữ nhiều nét chạm khắc của những người cổ xưa đầy bí ẩn mà cho đến nay các nhà khoa học vẫn chưa giải mã hết được những hình vẽ cũng như các chữ viết trên đó.

Khí hậu ở đây mang đậm nét khí hậu ôn đới núi cao, nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 15,3 độ C, về mùa Đông xuất hiện mưa tuyết và băng giá trên các đỉnh núi cao.

Vườn Quốc gia Hoàng Liên nằm ở ngã ba của ba quần xã sinh vật, có sự hòa trộn phức tạp của hệ thực vật khu vực núi cao vùng Đông Nam Á, không giống bất kỳ khu vực nào trên thế giới.

Tại đây, các nhà nghiên cứu đã thống kê đươc trên 41.000 cây chè mọc hoang. Trong đó có nhiều cây trà cổ thụ có độ tuổi hàng nghìn năm, thân cây to có đường kính tán rộng tới 14m, gốc cây tới 80 cm đường kính, có cây 2-3 người ôm không xuể. Đây là khu vực phân bố nhiều quần thể chè cổ thụ nhất và rộng nhất ở Việt Nam. Các quần thể trà cổ thụ tồn tại ở đây như một hóa thạch sống và là bằng chứng về nơi phát tích của cây trà thế giới.

Có thể nói, vùng trà Hoàng Liên là khu vực được bảo tồn có số lượng cây chè cổ lớn nhất Việt Nam và thế giới, một kho tàng gene chè hoang dã quý hiếm. Đây cũng là một báu vật quốc gia và là một di sản quan trọng của nền văn minh nhân loại.

Những vùng trà cổ thụ hoang dã trên dãy núi Hoàng Liên Sơn vì vậy được xem như “hóa thạch sống” để nghiên cứu về nguồn gốc và sự tiến hóa của cây trà và lịch sử văn hóa trà, cũng như di sản lịch sử của nhân loại trên thế giới.

Để bảo vệ và tận dụng tốt nguồn tài nguyên di sản cây trà cổ hoang dã ở dãy núi Hoàng Liên Sơn, Chúng ta cần xác định, thống kê và đưa cây Trà cổ thụ hoang dã và nhóm những loài cây quý của quốc gia cần được bảo tồn và phát triển.

Sự thịnh vượng của thị trường trà hoang dã trên thế giới đã mang lại sức sống mới cho sự phát triển của ngành trà của các tỉnh thuộc khu vực vùng trà Hoàng Liên Sơn. Là khu vực sản xuất trà cổ thụ hoang dã chính, hình ảnh thương hiệu của trà các tỉnh thuộc vùng trà đang bị tụt lại phía sau. Do đó, đã đến lúc phải đặc biệt thúc đẩy ngành công nghiệp trà hoang dã và nghiên cứu và phát triển các thương hiệu với các đặc tính sản phẩm trà hoang dã và đặc điểm quốc gia.

Bởi ngoài giá trị lịch sử văn hóa, thì trà cổ trên dãy núi Hoàng Liên đang mang lại sinh kế cho hàng triệu hộ gia đình dân tộc thiểu số các tỉnh Tây Bắc Việt Nam.

DI SẢN VÙNG TRÀ HOÀNG LIÊN SƠN

Dân tộc Việt Nam là một trong những dân tộc đã biết đến cây trà đầu tiên trong lịch sử loài người. Người Việt Nam đã uống trà từ ngàn năm nay, điều này đã được chứng mình đầy thuyết phục bằng những dữ liệu lịch sử, tư liệu khảo cổ, tác phẩm văn học, các truyền thuyết, phả lục, nhân chứng, vật chứng và Hoàng Liên Sơn là trung tâm nguồn gốc của cây trà thế giới. Cây chè cổ thụ hoang dã đã được tìm thấy ở hơn 300 địa điểm tại 15 tỉnh và các vùng trên cả nước.

Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện đang có hơn 1.100.000 cây chè cổ thụ mọc hoang dã được tìm thấy dãy núi Hoàng Liên Sơn với những cá thể lão trà hàng ngàn tuổi còn tới ngày nay.

Điều này chứng minh rằng Việt Nam là nơi phát tích cây trà của thế giới, nơi đầu tiên trong lịch sử loài người sử dụng và trồng cây chè. Việt Nam cũng được đánh giá đang có số lượng cây chè hoang dã lớn nhất được lưu giữ của nhân loại.

Lịch sử nguồn gốc:

Dãy núi Hoàng Liên Sơn nằm giữa sông Hồng và sông Đà thuộc phía tây bắc của Việt Nam, có chiều dài 180km từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Hòa Bình, chiều ngang chân núi rộng nhất khoảng 75km, hẹp là 45km theo hướng tây bắc – đông nam. Đây là vùng đất sinh tụ của người Việt cổ cách đây hơn 4000 năm từ thời tiền Hùng Vương. Dãy núi Hoàng Liên Sơn xưa kia thuộc bộ Tân Hưng, là một trong 15 bộ của Nhà nước Văn Lang, ngày nay thuộc địa phận 3 tỉnh là Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu. Dãy núi gồm ba khối: Khối Bạch Mộc Lương Tử, khối Fansipan và khối Pú Luông, Cảnh quan hùng vĩ nhất của dãy Hoàng Liên Sơn là đỉnh Fansipan cao 3.143 m. Cả “mái nhà” đồ sộ này là nơi khởi nguồn của hàng trăm dòng suối lớn nhỏ với hàng chục con thác đẹp kỳ vĩ. Khu vực Hoàng Liên Sơn có khí hậu á nhiệt đới núi cao với hệ động vật, thực vật phong phú, đa dạng trong đó có nhiều loài quý hiếm và nhiều sinh cảnh đặc hữu. Theo đánh giá của các nhà khoa học, đây là một trong những trung tâm đa dạng sinh vật vào bậc nhất của Việt Nam, đặt biệt là hệ thực vật rừng trong đó các quần thể chè hoang dã cổ thụ được coi là viên kim cương của rừng Hoàng Liên Sơn. Những quần thể chè cổ thụ rêu mốc  lẫn trong mây mù lượn lờ, chúng sống như thể “hóa thạch” âm thầm cả triệu năm, trường tồn và thách thức thời gian trên nền vùng trà có từ thời cổ đại của Việt Nam. Theo các ghi chép lịch sử, trà ở núi ở núi rừng Hoàng Liên Sơn đã được người Việt cổ phát hiện và sử dụng cách đây khoảng 4000-5000 năm từ thời tiền Hùng Vương, và trà cổ thụ hoang dã ở núi Hoàng Liên Sơn là nguyên liệu chủ yếu để sản xuất trà cống phẩm cho nhà Vua trong các triều đại phong kiến.

Năm 1960, ông M.K Djemukhatze chuyên gia hàng đầu về nghiên cứu chè của thế giới, Viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm Khoa học Liên Xô (cũ), sau những nghiên cứu về sự tiến hóa của cây chè, bằng cách phân tích thành phần catechin trong chè mọc hoang dại ở các vùng chè ở Tứ Xuyên, Vân Nam (Trung Quốc), Ấn Độ và các vùng trà cổ của Việt Nam trong đó có vùng trà cổ trên núi Hoàng Liên Sơn, đã kết luận; “…cây chè cổ ở Việt Nam, tổng hợp các catechin đơn giản hơn nhiều cây chè ở Vân Nam; cây chè ở Vân Nam chất catechin phức tạp hơn nhiều cây chè Việt Nam, như vậy là một loại hình tiến hóa sau cây chè Việt Nam”, từ kết quả nghiên cứu ông đưa ra sơ đồ tiến hóa hóa sinh của cây chè thế giới như sau:

Camelia > Thea wetnamica (chè Việt Nam) -> Thea fuinamica (chè Vân Nam lá to) -> The sinensis (chè Trung Quốc lá nhỏ) -> Thea assamica (chè Assam Ấn Độ).

Trong nhiều năm nghiên cứu nhiều vùng trà cổ, ông đã viết cảm nhận của mình về cây chè cổ ở dãy núi Hoàng Liên Sơn ông viết “Tôi đã đi qua 120 nước có cây chè trên thế giới nhưng chưa thấy ở đâu có cây chè lâu năm như ở dãy núi Hoàng Liên Sơn, phải chăng đây là nơi phát tích của cây chè? Chè ở đây độc đáo, trong bát nước chè xanh có đủ 18 vị đầu đẳng của chè thế giới”.

Với kết quả nghiên cứu sự tiến hóa của cây chè, Viện sĩ Djemukhatze đã đề xuất tên khoa học mới cho cây chè thế giới là Thea wetnamica (chè gốc Việt Nam) thay cho tên khoa học Thea sinensis (chè gốc Trung Hoa).

Vùng di sản trà cổ thụ hoang dã Hoàng Liên Sơn

Vùng di sản trà Hoàng Liên sơn có diện tích 68.569ha bao gồm đỉnh Fansipan cao nhất Đông Dương, trên dãy Hoàng Liên Sơn, ở độ cao từ 1.000-3.143m so với mặt biển và trải rộng trên địa bàn 6 xã: San Sả Hồ, Lao Chải, Tả Van, Bản Hồ, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai và Mường Khoa, Thân Thuộc, huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

Vùng trà Hoàng Liên Sơn nằm ở vùng núi cao nhất Việt Nam nên địa hình chia cắt mạnh, theo cả chiều ngang và chiều dọc, sườn núi dốc, có nhiều nơi dốc đứng.

Trải qua hàng triệu năm kiến tạo, địa chất ở đây gồm các đá trầm tích biến chất và sự xâm nhập của đá granite chạy dọc thung lũng Mường Khoa ở phía Tây Nam, phía Đông Bắc có nhiều đá cẩm thạch và đá vôi, trên mặt còn lưu giữ nhiều nét chạm khắc của những người cổ xưa đầy bí ẩn mà cho đến nay các nhà khoa học vẫn chưa giải mã hết được những hình vẽ cũng như các chữ viết trên đó.

Khí hậu ở đây mang đậm nét khí hậu ôn đới núi cao, nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 15,3 độ C, về mùa Đông xuất hiện mưa tuyết và băng giá trên các đỉnh núi cao.

Vườn Quốc gia Hoàng Liên nằm ở ngã ba của ba quần xã sinh vật, có sự hòa trộn phức tạp của hệ thực vật khu vực núi cao vùng Đông Nam Á, không giống bất kỳ khu vực nào trên thế giới.

Tại đây, các nhà nghiên cứu đã thống kê đươc trên 41.000 cây chè mọc hoang. Trong đó có nhiều cây trà cổ thụ có độ tuổi hàng nghìn năm, thân cây to có đường kính tán rộng tới 14m, gốc cây tới 80 cm đường kính, có cây 2-3 người ôm không xuể. Đây là khu vực phân bố nhiều quần thể chè cổ thụ nhất và rộng nhất ở Việt Nam. Các quần thể trà cổ thụ tồn tại ở đây như một hóa thạch sống và là bằng chứng về nơi phát tích của cây trà thế giới.

Có thể nói, vùng trà Hoàng Liên là khu vực được bảo tồn có số lượng cây chè cổ lớn nhất Việt Nam và thế giới, một kho tàng gene chè hoang dã quý hiếm. Đây cũng là một báu vật quốc gia và là một di sản quan trọng của nền văn minh nhân loại.

Những vùng trà cổ thụ hoang dã trên dãy núi Hoàng Liên Sơn vì vậy được xem như “hóa thạch sống” để nghiên cứu về nguồn gốc và sự tiến hóa của cây trà và lịch sử văn hóa trà, cũng như di sản lịch sử của nhân loại trên thế giới.

Để bảo vệ và tận dụng tốt nguồn tài nguyên di sản cây trà cổ hoang dã ở dãy núi Hoàng Liên Sơn, Chúng ta cần xác định, thống kê và đưa cây Trà cổ thụ hoang dã và nhóm những loài cây quý của quốc gia cần được bảo tồn và phát triển.

Sự thịnh vượng của thị trường trà hoang dã trên thế giới đã mang lại sức sống mới cho sự phát triển của ngành trà của các tỉnh thuộc khu vực vùng trà Hoàng Liên Sơn. Là khu vực sản xuất trà cổ thụ hoang dã chính, hình ảnh thương hiệu của trà các tỉnh thuộc vùng trà đang bị tụt lại phía sau. Do đó, đã đến lúc phải đặc biệt thúc đẩy ngành công nghiệp trà hoang dã và nghiên cứu và phát triển các thương hiệu với các đặc tính sản phẩm trà hoang dã và đặc điểm quốc gia.

Bởi ngoài giá trị lịch sử văn hóa, thì trà cổ trên dãy núi Hoàng Liên đang mang lại sinh kế cho hàng triệu hộ gia đình dân tộc thiểu số các tỉnh Tây Bắc Việt Nam.