Bạch Trà Tiên! Một trong những câu chuyện lịch sử trà
nổi tiếng của Việt Nam

Bạch Trà Tiên là một loại trà xanh nổi tiếng hàng đầu ở Việt Nam. Đồng thời, nó cũng là một loại trà xanh thực sự hiếm có ở Việt Nam, Bạch Trà Tiên nổi tiếng là do chất lượng chè đạt mức “ngự trà”. Bạch Trà Tiên được Tập Đoàn Thiên Vân Sơn sản xuất tại khu vực xã Túng Sán, huyện Hoàng Su Phì của tỉnh Hà Giang. Hàng năm trong những cơn mưa ở thung lũng Túng Sán, những đầu chồi mập và khỏe, búp được phủ một lớp lông trắng mịn của những cây trà cổ thụ sẽ được chọn và xao bằng tay trên chảo gang. Khi pha Bạch Trà Tiên vào cốc thủy tinh trong suốt sẽ thấy màu nước trong vắt với màu vàng của quả mơ, mùi thơm của hoa lan, hương vị êm dịu và ngọt ngào. Trà được đặt tên là Bạch Trà Tiên vì người dân sinh sống ở núi Tây Côn Lĩnh gọi loại trà rừng mọc hoang dã trên núi này là trà tiên hơn nữa chồi búp trên cùng của loại trà rừng này được bao phủ bởi lông nhung màu trắng, nhìn xa trông như một nàng tiên trong chiếc áo choàng lông vũ trông thật đẹp. Bạch Trà Tiên được sản xuất tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh và các xã Túng Sán, Phương Tiến, Cao Bồ. Tây Côn Lĩnh là một dãy núi kỳ bí, với vách đá dựng đứng, hẻm núi dọc ngang, cây rừng xanh mướt, khe suối nước tranh nhau chảy róc rách, đỉnh núi quanh năm phủ đầy mây và có tuyết vào mùa đông, khí hậu ôn hòa, lượng mưa dồi dào, đất đai màu mỡ, độ ẩm không khí cao, sương mù nhiều. Trong điều kiện tự nhiên đặc biệt này, cây chè được đắm mình trong những đám mây lượn lờ suốt cả ngày, rất thích hợp cho sự phát triển của cây chè. Ngoài ra, núi Tây Côn Lĩnh có rất nhiều hoa lan. Khi hái chè, hoa lan nở có mùi thơm, khiến Bạch Trà Tiên ở Tây Côn Lĩnh có màu nước trong vắt với màu vàng của quả mơ, mùi thơm kéo dài như hoa lan trắng, hương vị êm dịu và ngọt ngào, nó là loại trà ngon nhất thế giới.

I. Lịch sử Phát triển

Bạch Trà Tiên ở núi Tây Côn Lĩnh thuộc vùng đất không gian sinh tồn của người Việt cổ, nó thuộc bộ Tây Vu trong 15 bộ của nhà nước Văn Lang cách đây hơn 4000 năm, sau đó là quốc gia Âu Lạc. Đến thời Lý, vùng đất này thuộc châu Bình Nguyên, phủ Phú Lương. Đầu thời Trần, khu vực Hà Giang – Tuyên Quang được gọi là châu Tuyên Quang, thuộc lộ Quốc Oai. Năm 1397 thì đổi thành trấn Tuyên Quang. Đến ngày 17.9.1895 tỉnh Hà Giang được thành lập và ranh giới Hà Giang được ấn định lại như trên bản đồ ngày nay. Bạch Trà tiên trên đỉnh núi Tây Côn Lĩnh là khu vực tiếp giáp của 2 huyện Hoàng Su Phì, Huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang.
Theo “Hồ sơ trà nổi tiếng Việt Nam”, đã trích dẫn trong Bản đồ phân bố các vùng của vùng đất Giao Chỉ (618 – 907): Bạch Trà Tiên ở núi Tây Côn Lĩnh thuộc vùng sản xuất chè Lĩnh Nam Đạo, là vùng sản xuất chè trọng yếu của vùng đất Giao Chỉ của Việt Nam. Điều này cho thấy vùng chè Bạch Trà Tiên đã nổi tiếng Đây là đạo sản xuất chè chính của Việt Nam thời kỳ đó.
Bạch Trà Tiên ở núi Tây Côn Lĩnh qua truyền thuyết thời nhà Mạc “. Truyền thuyết được lưu rằng sinh thời, Mạc Đăng Dung rất thích uống một thứ lá cây kỳ lạ, được lấy từ trên đỉnh núi cao quanh năm mây phủ của dãy Tây Côn Lĩnh. Ông biết đến thức uống này nhờ một kỳ duyên. Thủa hàn vi làm nghề đánh cá trên sông, một lần ông đuổi theo một con cá khổng lồ, con cá như đã thành tinh, hết sức ma mãnh. Đã bao lần, chàng ngư phủ Mạc Đăng Dung tưởng tóm được nó nhưng rồi lại trượt. Mải mê săn đuổi cá khiến Dung quên cả thời gian, không biết bao nhiêu ngày đã trôi qua. Một buổi sáng thức dậy, Mạc Đăng Dung ngỡ ngàng trước một vùng trời nước uy nghiêm, núi non hùng vĩ. Dòng sông vốn hung dữ bỗng trở nên hiền hoà, mặt nước phẳng và xanh ngăn ngắt bảng lảng khói sương. Thấy lạ, Dung cho thuyền dạt vào một quán vắng ven sông. Chủ nhà là một cụ già quắc thước, mắt sáng, râu tóc đều trắng như tuyết. Sau khi uống xong ba bát nước, Mạc Đăng Dung thấy tinh thần đang rệu rã bỗng dưng sảng khoái, sức lực như được bồi bổ. Gạn hỏi, ông được biết đó là nước được nấu từ một loại lá cây rừng trên núi Tây Côn Lĩnh chuyển về. Từ đó, ông dùng loại nước uống này hàng ngày. Năm 1527, Mạc Đăng Dung lên ngôi, lập nên Triều Mạc và đưa trà hái ở núi Tây Côn Lĩnh vào chốn cung đình. Mỗi buổi sáng, trước khi luyện đao hay thiết triều, ông thường uống ba chung trà và bốn chén rượu để tăng thêm sức lực và trí lực. Suốt những tháng năm sóng gió của cuộc đời mình, có hai vật luôn luôn gắn liền với ông. Đó là thanh long đao nặng 35 kg và trà rừng hái từ núi Tây Côn Lĩnh. Điều này cho thấy Bạch Trà Tiên ở núi Tây Côn Lĩnh đã nổi tiếng vào thời nhà Mạc. Vào thời điểm này, Bạch Trà Tiên có những đặc điểm và danh tiếng riêng, và nguyên mẫu của Bạch Trà Tiên đã cơ bản được hình thành. Từ đây Bạch Trà Tiên đã trở thành vật để tiến vua trở thành trà Cung đình, chỉ dành riêng cho Vua chúa và tầng lớp thượng lưu quyền quý, cành vàng lá ngọc.
Từ thế kỷ XVIII trở về sau, dòng Trà Cung đình Việt thanh cao và triết lý Trà Nô do Chúa Tĩnh Vương Trịnh Sâm (1767-1782) khởi xướng. Một triết lý bình dị mà cao siêu, vừa giản đơn lại rất mực uyên thâm. Nó đánh dấu son và tạo dựng nét xuất thần độc đáo, đậm bản sắc riêng của dòng Trà Cung đình Việt. Ở ngôi vị chí tôn, trên tất thảy muôn người, Nhà Chúa phát hiện ra một « chân lý », nghe qua thật mộc mạc : Muốn thưởng thức được vị ngon của trà – hãy làm Nô bộc cho Trà ! Và triết lý Trà Nô đã ra đời.
Năm 1933, Ông J.J.B.Denss, một chuyên viên chè người Hà Lan, nguyên giám đốc Viện nghiên cứu chè Biutenzorg ở Java (Indonexia), cố vấn của Công ty chè Đông Dương thời Pháp, sau khi khảo sát chè cổ ở núi Tây Côn Lĩnh thuộc thôn Tham Vè xã Cao Bồ, huyện vị, tỉnh Hà Giang để viết về nguồn gốc cây chè trên thế giới.
Sau khi nhà nước Việt Nam ra đời, Bạch Trà Tiên đã có được cuộc sống mới. Bạch Trà Tiên được biết đến là loại trà nổi tiếng bậc nhất Việt Nam được sản xuất từ ngọn núi Tây Côn Lĩnh, và nó được đặt gọi là ” Bạch Trà Tiên “.

Trong Biên niên sử tỉnh Hà Giang núi Tây Côn Lĩnh là một đỉnh núi trên khối núi thượng nguồn sông Chảy ở phía tây tỉnh Hà Giang, dãy núi Tây Côn Lĩnh trải dài trên hai huyện Hoàng Su Phì và Vị Xuyên, cách thị xã Hà Giang 46 km. Với độ cao 2.427 m, đây là đỉnh núi cao nhất vùng Đông Bắc, thường được gọi là “nóc nhà Đông Bắc”, và được coi là dãy núi thiêng của người dân tộc La Chí. Trên đỉnh núi có mốc trắc địa. Dưới chân núi là rừng nguyên sinh á nhiệt đới còn được bảo tồn. Bạch Trà Tiên ở Tây Côn Lĩnh được coi là nổi tiếng nhất, màu sắc và hương thơm nằm ngoài tầm với của những ngọn núi khác. Một năm Tập Đoàn Thiên Vân Sơn cũng chỉ sản xuất một lượng nhỏ Bạch Trà Tiên.
Năm 2015, Bạch Trà Tiên được thành lập và bắt đầu đưa trà vào Hà Nội. Các thương nhân người Anh, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc… nếm thử và ngay lập tức trở nên nổi tiếng ở Hà Nội. Sau đó, “Thiên Vân Sơn” đã chế biến các lô hàng Bạch Trà Tiên ra ngoài thị trường và một lượng nhỏ được xuất khẩu. 5 năm kể từ khi Bạch Trà Tiên được bán trên trang website https://thienvanson.com đã được người tiêu dùng đón nhận, sau đó được bán trên toàn Việt Nam, và trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới.
Vào đầu năm 2020, tỉnh hà giang phân bổ vùng nguyên liệu. Công ty CP tập đoàn thiên vân sơn đã thông qua hồ sơ quy hoạch vùng nguyên liệu và khảo sát thực địa.
Bắt đầu vào mùa xuân năm 2020, 8 thôn bản ở các xã Túng Sán đã được chọn để sản xuất Bạch Trà Tiên siêu cao cấp. Trong số đó, Bạch Trà Tiên đặc biệt được sản xuất ở xã Túng Sán của Công ty CP tập đoàn thiên vân sơn có chất lượng tốt nhất.
Từ năm 2020, Công ty Công ty CP tập đoàn thiên vân sơn tiếp tục sản xuất Bạch Trà Tiên siêu cấp tại nơi phát tích vùng trà từ thời cổ đại tại núi Tây Côn Lĩnh, và sẽ được xuất khẩu sang Châu Âu, Mỹ và Hồng Kông.

II. Lịch sử nguồn gốc

Khu vực núi Tây Côn Lĩnh là một đỉnh núi kỳ bí, với vách đá dựng đứng, hẻm núi dọc ngang, cây rừng xanh mướt, khe suối nước tranh nhau chảy róc rách, đỉnh núi quanh năm phủ đầy mây và có tuyết vào mùa đông, khí hậu ôn hòa, lượng mưa dồi dào, đất đai màu mỡ, độ ẩm không khí cao, sương mù nhiều. Trong điều kiện tự nhiên đặc biệt này, cây chè được đắm mình trong những đám mây lượn lờ suốt cả ngày, rất thích hợp cho sự phát triển của cây chè. Ngoài ra, núi Tây Côn Lĩnh có rất nhiều hoa lan. Khi hái chè, hoa lan nở có mùi thơm, khiến Bạch Trà Tiên ở Tây Côn Lĩnh có mùi thơm kéo dài như hoa lan trắng. Bạch Trà Tiên ở núi Tây Côn Lĩnh là vùng trà có từ thời cổ đại của Việt Nam, là nơi phát tích của trà thế giới. Theo các ghi chép lịch sử, Bạch Trà Tiên ở núi Tây Côn Lĩnh đã nổi tiếng từ hơn 500 năm trước. Truyền thuyết kể rằng tiền thân của Bạch Trà Tiên bắt đầu được sản xuất tại Tây Côn Lĩnh từ thời nhà Mạc (khoảng năm 1527), nó là vật cống phẩm cho nhà vua trong các triều đại phong kiến.
Nguồn gốc của Bạch Trà Tiên là núi Tây Côn Lĩnh. Nguyên liệu khai thác để sản xuất Bạch Trà Tiên, được khai thác từ 3 vùng chè cổ là Túng Sán, Phương Tiến,
Cao Bồ. Trong đó trà được sản xuất ở xã Túng Sán là có chất lượng tốt nhất và đây là vùng nguyên liệu chính cho ra đời sản phẩm Bạch Trà Tiên siêu cấp.

III. Điều kiện tự nhiên

Loại trà này là sản vật của núi Tây Côn Lĩnh có đỉnh cao 2419m nổi tiếng của tỉnh Hà Giang. Núi Tây Côn Lĩnh là một dãy núi kỳ bí và có nghiều hiện tượng bí ẩn đối với thế giới, cũng là nơi tập trung nhiều cảnh quan thiên nhiên và con người. Địa chất – địa mạo, có nhiều mỏ khoáng sản, khí hậu á nhiệt đới núi cao, lượng mưa tương đối nhiều và cây chè phát triển tươi tốt. Ngoài điều kiện tự nhiên của khí hậu ẩm ướt, đất mềm độ phong hóa cao và giàu dinh dưỡng ở các khu vực có cây chè. Tây Côn Lĩnh còn có những đặc điểm riêng như núi cao và thung lũng sâu, với vách đá dựng đứng, hẻm núi dọc ngang, cây rừng xanh mướt, khe suối nước tranh nhau chảy róc rách, đỉnh núi quanh năm phủ đầy mây và có tuyết vào mùa đông, khí hậu ôn hòa, lượng mưa dồi dào, đất đai màu mỡ, độ ẩm không khí cao, sương mù nhiều. Trong điều kiện tự nhiên đặc biệt này, cây chè được đắm mình trong những đám mây lượn lờ suốt cả ngày, rất thích hợp cho sự phát triển của cây chè. Ngoài ra, núi Tây Côn Lĩnh có rất nhiều hoa lan. Khi hái chè, hoa lan nở và thẩm thấu vào chè khiến trà Bạch Trà Tiên đặc biệt thơm và độc đáo.
Trong khu vực của Khu thắng cảnh Tây Côn Lĩnh của dãy núi Tây Côn Lĩnh, có đỉnh núi ở cao 2.000 – 2.247m mét so với mực nước biển, là những khu vực sản xuất chính của trà siêu cao cấp Bạch Trà Tiên. Xã Túng Sán, Phương Tiến, Cao Bồ quanh khu vực danh lam thắng cảnh là những vùng sản xuất quan trọng của Bạch Trà Tiên ở Tây Côn Lĩnh, và đã được gọi là “Ba vùng di sản trà nổi tiếng” trong lịch sử.

IV. Quy trình sản xuất

1. Lựa chọn nguyên liệu:

Yêu cầu hái của Bạch Trà Tiên là cực kỳ nghiêm ngặt. Nói chung, cần phải chọn những ngày nắng, đặc biệt là thời tiết gió đông bắc là tốt nhất. Có mười quy tắc không áp dụng, đó là: không được thu hoạch trong những ngày mưa, không hái trong sương, không chọn búp mỏng hay rỗng, không chọn chồi màu tím, không chọn chồi nhánh, không chọn đầu chồi bị hư hại, chồi đã bung lá không lấy, đầu chồi bị hỏng do côn trùng không được thu hái, chồi bị bệnh không lấy. Chỉ thu hoạch được chồi đầu. Nếu chồi mới chớm bung một lá được thu hoạch, nhưng chỉ chọn chồi búp ở chính giữa.
Sản xuất của Bạch Trà Tiên được chia thành ba quy trình: là quy trình thu hái, làm héo và sấy khô.

2. Thứ hai, làm héo Bạch Trà Tiên

a. Phương pháp héo tự nhiên:

Phương pháp héo tự nhiên để sản xuất Bạch Trà Tiên có những yêu cầu khắt khe đối với thời tiết: ngày nắng, nhiệt độ cao và độ ẩm thấp. Màu xanh của trà rất dễ khô và có thể tạo ra Bạch Trà Tiên mịn với nụ trắng và thân xanh. Những ngày phía Tây Bắc tương đối kém, vì độ ẩm cao, lá tươi khô chậm, và rất dễ trở thành Bạch Trà Tiên cấp hai với chồi xanh và thân đen. Nó không thích hợp cho những ngày mưa và sương mù. Nếu bị vi phạm, ” Bạch Trà Tiên ” được sản xuất sẽ có màu “xám và đen” mà không có độ tươi. Nhưng công nghệ xử lý và lựa chọn không phải là thứ mà người bình thường có thể học được. Phải mất một thời gian dài luyện tập và tạo tác tỉ mỉ để tạo ra Bạch Trà Tiên có chất lượng tốt. Việc sản xuất Bạch Trà Tiên là trải đều những nụ trà thô trên một cái nia. Mỗi nia trải đều trà khoảng 250g. Cần phải trải đều và không chồng lên nhau. Một khi các chồi trà chồng lên nhau, nó sẽ chuyển sang màu đen. Dưới ánh sáng mặt trời, không khôi phục để tránh được màu đỏ của lá bị thương. Khi các yêu cầu về độ khô được đáp ứng, hãy chọn, loại bỏ thân cây, sau đó sấy và đóng gói.

b. Phương pháp làm thổi nóng và héo trong nhà.

Rải nguyên liệu thô lên một cái nia, và cho trà vào phòng sưởi nóng để làm héo. Bạch Trà Tiên được sản xuất theo phương pháp này có vẻ ngoài đầy đặn với các chồi đơn, được bao phủ bởi lớp lông màu trắng, mịn và sáng, màu trắng bạc hoặc xám bạc. Bản chất là tươi, hương thơm ngọt ngào, hương vị tươi và hơi ngọt, và nước trà có màu mơ vàng, trong và sáng.

c. Làm héo kép.

Kết hợp héo ngoài trời và trong nhà. Phương pháp này thường được sử dụng cho thời tiết không ổn định. Khi một số bộ phận bị khô héo ngoài trời, do bất khả kháng của thời tiết, chúng cần được chuyển đến phòng để thổi hơi nóng để làm héo. Sự kết hợp của hai phương pháp làm héo không chỉ cho phép vận hành linh hoạt mà còn tạo ra Bạch Trà Tiên. Mùi thơm cũng đặc biệt.

d. Chế biến Bạch Trà Tiên theo phương pháp thủ công.

Thu hái: Đó phải là những chồi mọc vào đầu mùa xuân trên cây trà. Khi chồi được bắt đầu bung lá đầu tiên, chúng sẽ được hái, vảy lá cá bị loại bỏ, chồi được hái chỉ có toàn bộ phần chồi búp ở chính giữa mập mạp, khỏe mạnh.
Làm héo: Vị trí làm héo phải sạch sẽ, sáng và thoáng mát. Nhanh chóng rải đều những chồi tươi trên tấm nia tre và đặt chúng lên giá phơi ngoài trời thông gió. Chúng sẽ khô héo một cách tự nhiên hoặc được phơi dưới ánh nắng yếu. Khi hàm lượng nước của búp trà còn khoảng 20%, nó được chuyển sang quá trình sấy.
Sấy khô: Phòng sấy phải sạch sẽ, hợp vệ sinh và không có mùi hôi, thông gió tốt và trong nhà sáng sủa. Trải những nụ trà khô héo mỏng vào chảo gang, và làm khô chúng với nhiệt độ nhẹ 30 – 40 độ cho đến khi trà khô. Khi sấy sẽ để thêm một lớp giấy trắng dưới đáy chảo để tránh nhiệt độ lửa quá cao sẽ làm cháy búp trà. Khi sấy, cần cẩn thận để kiểm soát nhiệt độ của lửa, và đảo nhẹ kịp thời để làm cho nhiệt độ lửa trên chảo gang và chồi trà khô được đều nhiệt độ. Lưu trữ trong một thùng chứa mát sau khi sấy khô.
Nhặt: Loại bỏ các tôm trà đỏ, đỏ thẫm, đỏ sẫm, đen bạc, lá và các mảnh vụn không phải trà. Đảm bảo độ tinh khiết của kim bạc.

V. Tác dụng chính

Bạch Trà Tiên rất giàu chất dinh dưỡng, giàu theanine, polyphenol trong trà, polysacarit và các chất khác. Bạch Trà Tiên có thể mang đến một hương thơm độc đáo cho trà, vị tươi mới như cỏ sau cơn mưa, với một chút ngọt ngào.
Có rất nhiều lợi ích khi uống Bạch Trà Tiên, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu dưới đây!

1. Bạch Trà Tiên chứa các thành phần dinh dưỡng của trà xanh, ngoài các enzyme hoạt động cần thiết cho cơ thể con người . Uống trà Bạch Trà Tiên lâu dài có thể làm tăng hoạt động lipase trong cơ thể, thúc đẩy quá trình dị hóa chất béo và kiểm soát hiệu quả bài tiết insulin. Trì hoãn sự hấp thụ đường ruột, phá vỡ lượng đường dư thừa trong máu và thúc đẩy cân bằng lượng đường trong máu.
2. Bạch Trà Tiên rất giàu các axit amin khác nhau, nó thanh nhiệt, có chức năng làm giảm sốt, loại bỏ nhiệt và giải độc. Vào mùa hè, hãy uống một tách trà Bạch Trà Tiên và ít người sẽ bị say nắng. Trà Bạch Trà Tiên có thể được sử dụng như một loại thuốc hạ sốt cho trẻ em mắc bệnh sởi, và tác dụng hạ sốt của nó tốt hơn so với thuốc kháng sinh.
3. Thời gian lưu trữ của Bạch Trà Tiên càng dài, giá trị dược liệu của nó càng cao. Trà Bạch Trà Tiên cũng chứa một nguồn vitamin A. Sau khi được cơ thể hấp thụ, nó có thể được chuyển đổi nhanh chóng thành vitamin A. Vitamin A có thể tổng hợp rhodopsin, có thể làm cho mắt nhìn rõ hơn trong ánh sáng tối và có thể ngăn ngừa bệnh quáng gà và Bệnh khô mắt.
4. Bạch Trà Tiên có chất chống bức xạ, có tác dụng bảo vệ đáng kể đối với chức năng tạo máu của con người và có thể làm giảm tác hại của bức xạ tivi. Do đó, khi xem tivi, nên uống nhiều trà Bạch Trà Tiên, đặc biệt là trẻ em và trẻ nhỏ nên ủng hộ uống nhiều Bạch Trà Tiên, rất tốt cho việc bảo vệ mắt và sức khỏe.

Bạch Trà Tiên là nhãn hiệu độc quyền của Tập đoàn Thiên Vân Sơn đã được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu năm 2019. Nghiêm cấm việc sao chép tài liệu, sử dụng nhãn hiệu “Bạch Trà Tiên” khi chưa có sự đồng ý của chúng tôi.

Bạch Trà Tiên! Một trong những câu chuyện lịch sử trà
nổi tiếng của Việt Nam

Bạch Trà Tiên là một loại trà xanh nổi tiếng hàng đầu ở Việt Nam. Đồng thời, nó cũng là một loại trà xanh thực sự hiếm có ở Việt Nam, Bạch Trà Tiên nổi tiếng là do chất lượng chè đạt mức “ngự trà”. Bạch Trà Tiên được Tập Đoàn Thiên Vân Sơn sản xuất tại khu vực xã Túng Sán, huyện Hoàng Su Phì của tỉnh Hà Giang. Hàng năm trong những cơn mưa ở thung lũng Túng Sán, những đầu chồi mập và khỏe, búp được phủ một lớp lông trắng mịn của những cây trà cổ thụ sẽ được chọn và xao bằng tay trên chảo gang. Khi pha Bạch Trà Tiên vào cốc thủy tinh trong suốt sẽ thấy màu nước trong vắt với màu vàng của quả mơ, mùi thơm của hoa lan, hương vị êm dịu và ngọt ngào. Trà được đặt tên là Bạch Trà Tiên vì người dân sinh sống ở núi Tây Côn Lĩnh gọi loại trà rừng mọc hoang dã trên núi này là trà tiên hơn nữa chồi búp trên cùng của loại trà rừng này được bao phủ bởi lông nhung màu trắng, nhìn xa trông như một nàng tiên trong chiếc áo choàng lông vũ trông thật đẹp. Bạch Trà Tiên được sản xuất tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh và các xã Túng Sán, Phương Tiến, Cao Bồ. Tây Côn Lĩnh là một dãy núi kỳ bí, với vách đá dựng đứng, hẻm núi dọc ngang, cây rừng xanh mướt, khe suối nước tranh nhau chảy róc rách, đỉnh núi quanh năm phủ đầy mây và có tuyết vào mùa đông, khí hậu ôn hòa, lượng mưa dồi dào, đất đai màu mỡ, độ ẩm không khí cao, sương mù nhiều. Trong điều kiện tự nhiên đặc biệt này, cây chè được đắm mình trong những đám mây lượn lờ suốt cả ngày, rất thích hợp cho sự phát triển của cây chè. Ngoài ra, núi Tây Côn Lĩnh có rất nhiều hoa lan. Khi hái chè, hoa lan nở có mùi thơm, khiến Bạch Trà Tiên ở Tây Côn Lĩnh có màu nước trong vắt với màu vàng của quả mơ, mùi thơm kéo dài như hoa lan trắng, hương vị êm dịu và ngọt ngào, nó là loại trà ngon nhất thế giới.

I. Lịch sử Phát triển

Bạch Trà Tiên ở núi Tây Côn Lĩnh thuộc vùng đất không gian sinh tồn của người Việt cổ, nó thuộc bộ Tây Vu trong 15 bộ của nhà nước Văn Lang cách đây hơn 4000 năm, sau đó là quốc gia Âu Lạc. Đến thời Lý, vùng đất này thuộc châu Bình Nguyên, phủ Phú Lương. Đầu thời Trần, khu vực Hà Giang – Tuyên Quang được gọi là châu Tuyên Quang, thuộc lộ Quốc Oai. Năm 1397 thì đổi thành trấn Tuyên Quang. Đến ngày 17.9.1895 tỉnh Hà Giang được thành lập và ranh giới Hà Giang được ấn định lại như trên bản đồ ngày nay. Bạch Trà tiên trên đỉnh núi Tây Côn Lĩnh là khu vực tiếp giáp của 2 huyện Hoàng Su Phì, Huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang.
Theo “Hồ sơ trà nổi tiếng Việt Nam”, đã trích dẫn trong Bản đồ phân bố các vùng của vùng đất Giao Chỉ (618 – 907): Bạch Trà Tiên ở núi Tây Côn Lĩnh thuộc vùng sản xuất chè Lĩnh Nam Đạo, là vùng sản xuất chè trọng yếu của vùng đất Giao Chỉ của Việt Nam. Điều này cho thấy vùng chè Bạch Trà Tiên đã nổi tiếng Đây là đạo sản xuất chè chính của Việt Nam thời kỳ đó.
Bạch Trà Tiên ở núi Tây Côn Lĩnh qua truyền thuyết thời nhà Mạc “. Truyền thuyết được lưu rằng sinh thời, Mạc Đăng Dung rất thích uống một thứ lá cây kỳ lạ, được lấy từ trên đỉnh núi cao quanh năm mây phủ của dãy Tây Côn Lĩnh. Ông biết đến thức uống này nhờ một kỳ duyên. Thủa hàn vi làm nghề đánh cá trên sông, một lần ông đuổi theo một con cá khổng lồ, con cá như đã thành tinh, hết sức ma mãnh. Đã bao lần, chàng ngư phủ Mạc Đăng Dung tưởng tóm được nó nhưng rồi lại trượt. Mải mê săn đuổi cá khiến Dung quên cả thời gian, không biết bao nhiêu ngày đã trôi qua. Một buổi sáng thức dậy, Mạc Đăng Dung ngỡ ngàng trước một vùng trời nước uy nghiêm, núi non hùng vĩ. Dòng sông vốn hung dữ bỗng trở nên hiền hoà, mặt nước phẳng và xanh ngăn ngắt bảng lảng khói sương. Thấy lạ, Dung cho thuyền dạt vào một quán vắng ven sông. Chủ nhà là một cụ già quắc thước, mắt sáng, râu tóc đều trắng như tuyết. Sau khi uống xong ba bát nước, Mạc Đăng Dung thấy tinh thần đang rệu rã bỗng dưng sảng khoái, sức lực như được bồi bổ. Gạn hỏi, ông được biết đó là nước được nấu từ một loại lá cây rừng trên núi Tây Côn Lĩnh chuyển về. Từ đó, ông dùng loại nước uống này hàng ngày. Năm 1527, Mạc Đăng Dung lên ngôi, lập nên Triều Mạc và đưa trà hái ở núi Tây Côn Lĩnh vào chốn cung đình. Mỗi buổi sáng, trước khi luyện đao hay thiết triều, ông thường uống ba chung trà và bốn chén rượu để tăng thêm sức lực và trí lực. Suốt những tháng năm sóng gió của cuộc đời mình, có hai vật luôn luôn gắn liền với ông. Đó là thanh long đao nặng 35 kg và trà rừng hái từ núi Tây Côn Lĩnh. Điều này cho thấy Bạch Trà Tiên ở núi Tây Côn Lĩnh đã nổi tiếng vào thời nhà Mạc. Vào thời điểm này, Bạch Trà Tiên có những đặc điểm và danh tiếng riêng, và nguyên mẫu của Bạch Trà Tiên đã cơ bản được hình thành. Từ đây Bạch Trà Tiên đã trở thành vật để tiến vua trở thành trà Cung đình, chỉ dành riêng cho Vua chúa và tầng lớp thượng lưu quyền quý, cành vàng lá ngọc.
Từ thế kỷ XVIII trở về sau, dòng Trà Cung đình Việt thanh cao và triết lý Trà Nô do Chúa Tĩnh Vương Trịnh Sâm (1767-1782) khởi xướng. Một triết lý bình dị mà cao siêu, vừa giản đơn lại rất mực uyên thâm. Nó đánh dấu son và tạo dựng nét xuất thần độc đáo, đậm bản sắc riêng của dòng Trà Cung đình Việt. Ở ngôi vị chí tôn, trên tất thảy muôn người, Nhà Chúa phát hiện ra một « chân lý », nghe qua thật mộc mạc : Muốn thưởng thức được vị ngon của trà – hãy làm Nô bộc cho Trà ! Và triết lý Trà Nô đã ra đời.
Năm 1933, Ông J.J.B.Denss, một chuyên viên chè người Hà Lan, nguyên giám đốc Viện nghiên cứu chè Biutenzorg ở Java (Indonexia), cố vấn của Công ty chè Đông Dương thời Pháp, sau khi khảo sát chè cổ ở núi Tây Côn Lĩnh thuộc thôn Tham Vè xã Cao Bồ, huyện vị, tỉnh Hà Giang để viết về nguồn gốc cây chè trên thế giới.
Sau khi nhà nước Việt Nam ra đời, Bạch Trà Tiên đã có được cuộc sống mới. Bạch Trà Tiên được biết đến là loại trà nổi tiếng bậc nhất Việt Nam được sản xuất từ ngọn núi Tây Côn Lĩnh, và nó được đặt gọi là ” Bạch Trà Tiên “.

Trong Biên niên sử tỉnh Hà Giang núi Tây Côn Lĩnh là một đỉnh núi trên khối núi thượng nguồn sông Chảy ở phía tây tỉnh Hà Giang, dãy núi Tây Côn Lĩnh trải dài trên hai huyện Hoàng Su Phì và Vị Xuyên, cách thị xã Hà Giang 46 km. Với độ cao 2.427 m, đây là đỉnh núi cao nhất vùng Đông Bắc, thường được gọi là “nóc nhà Đông Bắc”, và được coi là dãy núi thiêng của người dân tộc La Chí. Trên đỉnh núi có mốc trắc địa. Dưới chân núi là rừng nguyên sinh á nhiệt đới còn được bảo tồn. Bạch Trà Tiên ở Tây Côn Lĩnh được coi là nổi tiếng nhất, màu sắc và hương thơm nằm ngoài tầm với của những ngọn núi khác. Một năm Tập Đoàn Thiên Vân Sơn cũng chỉ sản xuất một lượng nhỏ Bạch Trà Tiên.
Năm 2015, Bạch Trà Tiên được thành lập và bắt đầu đưa trà vào Hà Nội. Các thương nhân người Anh, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc… nếm thử và ngay lập tức trở nên nổi tiếng ở Hà Nội. Sau đó, “Thiên Vân Sơn” đã chế biến các lô hàng Bạch Trà Tiên ra ngoài thị trường và một lượng nhỏ được xuất khẩu. 5 năm kể từ khi Bạch Trà Tiên được bán trên trang website https://thienvanson.com đã được người tiêu dùng đón nhận, sau đó được bán trên toàn Việt Nam, và trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới.
Vào đầu năm 2020, tỉnh hà giang phân bổ vùng nguyên liệu. Công ty CP tập đoàn thiên vân sơn đã thông qua hồ sơ quy hoạch vùng nguyên liệu và khảo sát thực địa.
Bắt đầu vào mùa xuân năm 2020, 8 thôn bản ở các xã Túng Sán đã được chọn để sản xuất Bạch Trà Tiên siêu cao cấp. Trong số đó, Bạch Trà Tiên đặc biệt được sản xuất ở xã Túng Sán của Công ty CP tập đoàn thiên vân sơn có chất lượng tốt nhất.
Từ năm 2020, Công ty Công ty CP tập đoàn thiên vân sơn tiếp tục sản xuất Bạch Trà Tiên siêu cấp tại nơi phát tích vùng trà từ thời cổ đại tại núi Tây Côn Lĩnh, và sẽ được xuất khẩu sang Châu Âu, Mỹ và Hồng Kông.

II. Lịch sử nguồn gốc

Khu vực núi Tây Côn Lĩnh là một đỉnh núi kỳ bí, với vách đá dựng đứng, hẻm núi dọc ngang, cây rừng xanh mướt, khe suối nước tranh nhau chảy róc rách, đỉnh núi quanh năm phủ đầy mây và có tuyết vào mùa đông, khí hậu ôn hòa, lượng mưa dồi dào, đất đai màu mỡ, độ ẩm không khí cao, sương mù nhiều. Trong điều kiện tự nhiên đặc biệt này, cây chè được đắm mình trong những đám mây lượn lờ suốt cả ngày, rất thích hợp cho sự phát triển của cây chè. Ngoài ra, núi Tây Côn Lĩnh có rất nhiều hoa lan. Khi hái chè, hoa lan nở có mùi thơm, khiến Bạch Trà Tiên ở Tây Côn Lĩnh có mùi thơm kéo dài như hoa lan trắng. Bạch Trà Tiên ở núi Tây Côn Lĩnh là vùng trà có từ thời cổ đại của Việt Nam, là nơi phát tích của trà thế giới. Theo các ghi chép lịch sử, Bạch Trà Tiên ở núi Tây Côn Lĩnh đã nổi tiếng từ hơn 500 năm trước. Truyền thuyết kể rằng tiền thân của Bạch Trà Tiên bắt đầu được sản xuất tại Tây Côn Lĩnh từ thời nhà Mạc (khoảng năm 1527), nó là vật cống phẩm cho nhà vua trong các triều đại phong kiến.
Nguồn gốc của Bạch Trà Tiên là núi Tây Côn Lĩnh. Nguyên liệu khai thác để sản xuất Bạch Trà Tiên, được khai thác từ 3 vùng chè cổ là Túng Sán, Phương Tiến,
Cao Bồ. Trong đó trà được sản xuất ở xã Túng Sán là có chất lượng tốt nhất và đây là vùng nguyên liệu chính cho ra đời sản phẩm Bạch Trà Tiên siêu cấp.

III. Điều kiện tự nhiên

Loại trà này là sản vật của núi Tây Côn Lĩnh có đỉnh cao 2419m nổi tiếng của tỉnh Hà Giang. Núi Tây Côn Lĩnh là một dãy núi kỳ bí và có nghiều hiện tượng bí ẩn đối với thế giới, cũng là nơi tập trung nhiều cảnh quan thiên nhiên và con người. Địa chất – địa mạo, có nhiều mỏ khoáng sản, khí hậu á nhiệt đới núi cao, lượng mưa tương đối nhiều và cây chè phát triển tươi tốt. Ngoài điều kiện tự nhiên của khí hậu ẩm ướt, đất mềm độ phong hóa cao và giàu dinh dưỡng ở các khu vực có cây chè. Tây Côn Lĩnh còn có những đặc điểm riêng như núi cao và thung lũng sâu, với vách đá dựng đứng, hẻm núi dọc ngang, cây rừng xanh mướt, khe suối nước tranh nhau chảy róc rách, đỉnh núi quanh năm phủ đầy mây và có tuyết vào mùa đông, khí hậu ôn hòa, lượng mưa dồi dào, đất đai màu mỡ, độ ẩm không khí cao, sương mù nhiều. Trong điều kiện tự nhiên đặc biệt này, cây chè được đắm mình trong những đám mây lượn lờ suốt cả ngày, rất thích hợp cho sự phát triển của cây chè. Ngoài ra, núi Tây Côn Lĩnh có rất nhiều hoa lan. Khi hái chè, hoa lan nở và thẩm thấu vào chè khiến trà Bạch Trà Tiên đặc biệt thơm và độc đáo.
Trong khu vực của Khu thắng cảnh Tây Côn Lĩnh của dãy núi Tây Côn Lĩnh, có đỉnh núi ở cao 2.000 – 2.247m mét so với mực nước biển, là những khu vực sản xuất chính của trà siêu cao cấp Bạch Trà Tiên. Xã Túng Sán, Phương Tiến, Cao Bồ quanh khu vực danh lam thắng cảnh là những vùng sản xuất quan trọng của Bạch Trà Tiên ở Tây Côn Lĩnh, và đã được gọi là “Ba vùng di sản trà nổi tiếng” trong lịch sử.

IV. Quy trình sản xuất

1. Lựa chọn nguyên liệu:

Yêu cầu hái của Bạch Trà Tiên là cực kỳ nghiêm ngặt. Nói chung, cần phải chọn những ngày nắng, đặc biệt là thời tiết gió đông bắc là tốt nhất. Có mười quy tắc không áp dụng, đó là: không được thu hoạch trong những ngày mưa, không hái trong sương, không chọn búp mỏng hay rỗng, không chọn chồi màu tím, không chọn chồi nhánh, không chọn đầu chồi bị hư hại, chồi đã bung lá không lấy, đầu chồi bị hỏng do côn trùng không được thu hái, chồi bị bệnh không lấy. Chỉ thu hoạch được chồi đầu. Nếu chồi mới chớm bung một lá được thu hoạch, nhưng chỉ chọn chồi búp ở chính giữa.
Sản xuất của Bạch Trà Tiên được chia thành ba quy trình: là quy trình thu hái, làm héo và sấy khô.

2. Thứ hai, làm héo Bạch Trà Tiên

a. Phương pháp héo tự nhiên:

Phương pháp héo tự nhiên để sản xuất Bạch Trà Tiên có những yêu cầu khắt khe đối với thời tiết: ngày nắng, nhiệt độ cao và độ ẩm thấp. Màu xanh của trà rất dễ khô và có thể tạo ra Bạch Trà Tiên mịn với nụ trắng và thân xanh. Những ngày phía Tây Bắc tương đối kém, vì độ ẩm cao, lá tươi khô chậm, và rất dễ trở thành Bạch Trà Tiên cấp hai với chồi xanh và thân đen. Nó không thích hợp cho những ngày mưa và sương mù. Nếu bị vi phạm, ” Bạch Trà Tiên ” được sản xuất sẽ có màu “xám và đen” mà không có độ tươi. Nhưng công nghệ xử lý và lựa chọn không phải là thứ mà người bình thường có thể học được. Phải mất một thời gian dài luyện tập và tạo tác tỉ mỉ để tạo ra Bạch Trà Tiên có chất lượng tốt. Việc sản xuất Bạch Trà Tiên là trải đều những nụ trà thô trên một cái nia. Mỗi nia trải đều trà khoảng 250g. Cần phải trải đều và không chồng lên nhau. Một khi các chồi trà chồng lên nhau, nó sẽ chuyển sang màu đen. Dưới ánh sáng mặt trời, không khôi phục để tránh được màu đỏ của lá bị thương. Khi các yêu cầu về độ khô được đáp ứng, hãy chọn, loại bỏ thân cây, sau đó sấy và đóng gói.

b. Phương pháp làm thổi nóng và héo trong nhà.

Rải nguyên liệu thô lên một cái nia, và cho trà vào phòng sưởi nóng để làm héo. Bạch Trà Tiên được sản xuất theo phương pháp này có vẻ ngoài đầy đặn với các chồi đơn, được bao phủ bởi lớp lông màu trắng, mịn và sáng, màu trắng bạc hoặc xám bạc. Bản chất là tươi, hương thơm ngọt ngào, hương vị tươi và hơi ngọt, và nước trà có màu mơ vàng, trong và sáng.

c. Làm héo kép.

Kết hợp héo ngoài trời và trong nhà. Phương pháp này thường được sử dụng cho thời tiết không ổn định. Khi một số bộ phận bị khô héo ngoài trời, do bất khả kháng của thời tiết, chúng cần được chuyển đến phòng để thổi hơi nóng để làm héo. Sự kết hợp của hai phương pháp làm héo không chỉ cho phép vận hành linh hoạt mà còn tạo ra Bạch Trà Tiên. Mùi thơm cũng đặc biệt.

d. Chế biến Bạch Trà Tiên theo phương pháp thủ công.

Thu hái: Đó phải là những chồi mọc vào đầu mùa xuân trên cây trà. Khi chồi được bắt đầu bung lá đầu tiên, chúng sẽ được hái, vảy lá cá bị loại bỏ, chồi được hái chỉ có toàn bộ phần chồi búp ở chính giữa mập mạp, khỏe mạnh.
Làm héo: Vị trí làm héo phải sạch sẽ, sáng và thoáng mát. Nhanh chóng rải đều những chồi tươi trên tấm nia tre và đặt chúng lên giá phơi ngoài trời thông gió. Chúng sẽ khô héo một cách tự nhiên hoặc được phơi dưới ánh nắng yếu. Khi hàm lượng nước của búp trà còn khoảng 20%, nó được chuyển sang quá trình sấy.
Sấy khô: Phòng sấy phải sạch sẽ, hợp vệ sinh và không có mùi hôi, thông gió tốt và trong nhà sáng sủa. Trải những nụ trà khô héo mỏng vào chảo gang, và làm khô chúng với nhiệt độ nhẹ 30 – 40 độ cho đến khi trà khô. Khi sấy sẽ để thêm một lớp giấy trắng dưới đáy chảo để tránh nhiệt độ lửa quá cao sẽ làm cháy búp trà. Khi sấy, cần cẩn thận để kiểm soát nhiệt độ của lửa, và đảo nhẹ kịp thời để làm cho nhiệt độ lửa trên chảo gang và chồi trà khô được đều nhiệt độ. Lưu trữ trong một thùng chứa mát sau khi sấy khô.
Nhặt: Loại bỏ các tôm trà đỏ, đỏ thẫm, đỏ sẫm, đen bạc, lá và các mảnh vụn không phải trà. Đảm bảo độ tinh khiết của kim bạc.

V. Tác dụng chính

Bạch Trà Tiên rất giàu chất dinh dưỡng, giàu theanine, polyphenol trong trà, polysacarit và các chất khác. Bạch Trà Tiên có thể mang đến một hương thơm độc đáo cho trà, vị tươi mới như cỏ sau cơn mưa, với một chút ngọt ngào.
Có rất nhiều lợi ích khi uống Bạch Trà Tiên, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu dưới đây!

1. Bạch Trà Tiên chứa các thành phần dinh dưỡng của trà xanh, ngoài các enzyme hoạt động cần thiết cho cơ thể con người . Uống trà Bạch Trà Tiên lâu dài có thể làm tăng hoạt động lipase trong cơ thể, thúc đẩy quá trình dị hóa chất béo và kiểm soát hiệu quả bài tiết insulin. Trì hoãn sự hấp thụ đường ruột, phá vỡ lượng đường dư thừa trong máu và thúc đẩy cân bằng lượng đường trong máu.
2. Bạch Trà Tiên rất giàu các axit amin khác nhau, nó thanh nhiệt, có chức năng làm giảm sốt, loại bỏ nhiệt và giải độc. Vào mùa hè, hãy uống một tách trà Bạch Trà Tiên và ít người sẽ bị say nắng. Trà Bạch Trà Tiên có thể được sử dụng như một loại thuốc hạ sốt cho trẻ em mắc bệnh sởi, và tác dụng hạ sốt của nó tốt hơn so với thuốc kháng sinh.
3. Thời gian lưu trữ của Bạch Trà Tiên càng dài, giá trị dược liệu của nó càng cao. Trà Bạch Trà Tiên cũng chứa một nguồn vitamin A. Sau khi được cơ thể hấp thụ, nó có thể được chuyển đổi nhanh chóng thành vitamin A. Vitamin A có thể tổng hợp rhodopsin, có thể làm cho mắt nhìn rõ hơn trong ánh sáng tối và có thể ngăn ngừa bệnh quáng gà và Bệnh khô mắt.
4. Bạch Trà Tiên có chất chống bức xạ, có tác dụng bảo vệ đáng kể đối với chức năng tạo máu của con người và có thể làm giảm tác hại của bức xạ tivi. Do đó, khi xem tivi, nên uống nhiều trà Bạch Trà Tiên, đặc biệt là trẻ em và trẻ nhỏ nên ủng hộ uống nhiều Bạch Trà Tiên, rất tốt cho việc bảo vệ mắt và sức khỏe.

Bạch Trà Tiên là nhãn hiệu độc quyền của Tập đoàn Thiên Vân Sơn đã được đăng ký bảo hộ nhãn hiệu năm 2019. Nghiêm cấm việc sao chép tài liệu, sử dụng nhãn hiệu “Bạch Trà Tiên” khi chưa có sự đồng ý của chúng tôi.