Nguồn gốc trà hoang dã Hoàng Liên Sơn

Việt Nam là quê hương của trà, trà là “quốc ẩm của Việt Nam”. Trà không chỉ là một thức uống đơn thuần của Việt Nam mà nó mang cả giá trị tinh thần, lịch sử và sự kết tinh văn hóa hơn 4000 năm của người Việt Nam.

Vùng trà hoang dã Hoàng Liên Sơn

Thời đại các vua Hùng (2879-257 TCN). Chuyện kể rằng: Chàng lái đò Trương Chi có giọng hát thật hay làm xiêu lòng Mỵ Nương. Nhưng khi gặp khuôn mặt xấu xí của chàng lái đò Mỵ Nương đâm thất vọng, ngược lại trước nhan sắc của Mỵ Nương Trương Chi về ốm tương tư rồi mất. Trương Chi chết hóa thành một hòn ngọc, người thợ đá tạc thành một cái chén uống trà dâng cho gia đình Mỵ Nương. Cứ mỗi lần rót nước trà vào chén Mỵ Nương thấy trong đó có hình chiếc đò bơi qua bơi lại và một tiếng hát từ cõi xa xăm nào đó vọng lại. Thương cảm, Mỵ Nương khóc, giọt nước mắt rơi vào chén trà và chén trà tan thành nước.

Câu chuyện quanh ly trà này là minh chứng của một nền văn hóa trà sâu sắc đã hình thành từ thời đại các vua Hùng. Xưa hơn nữa thì Lạc Long Quân và bà Âu Cơ đã mang cây trà từ Hồ Động Đình về Việt Nam rồi, tức người Việt đã biết trồng trà và dùng trà từ thời tiền Hùng Vương.

Theo nghiên tài liệu lịch sử dãy núi Hoàng Liên Sơn là không gian sinh tồn của người Việt cổ xa xưa thuộc bộ Tây Vu của nhà nước Văn Lang cách đây hơn 4000 năm rất giàu có về trà. Các chuyên gia và học giả trong thời hiện đại đã tiến hành thực nghiệm khoa học, dựa trên thuyết tiến hóa về nguồn gốc loài của Darwin, tại các vùng chè hoang dã cổ thụ ở Ấn Độ, Trung Quốc và các vùng trà hoang dã cổ thụ của Việt Nam trong đó có vùng trà hoang dã cổ thụ trên núi Hoàng Liên Sơn, đã kết luận: “…cây chè hoang dã cổ thụ ở Việt Nam tổng hợp các catechin đơn giản hơn nhiều cây chè ở Vân Nam (Trung Qốc); cây chè ở Trung Qốc chất catechin phức tạp hơn nhiều cây chè Việt Nam, như vậy là một loại hình tiến hóa sau cây chè Việt Nam”. Từ kết quả nghiên cứu ông đưa ra sơ đồ tiến hóa hóa sinh của cây chè thế giới như sau:

          Camelia -> Thea wetnamica (chè Việt Nam) -> Thea fuinamica (chè Vân Nam lá to) -> The sinensis (chè Trung Quốc lá nhỏ) -> Thea assamica (chè Assam Ấn Độ).

Với kết quả nghiên cứu sự tiến hóa của cây chè, các nhà khoa học đã đề xuất tên khoa học mới cho cây chè thế giới là Thea wetnamica (chè gốc Việt Nam) thay cho tên khoa học Thea sinensis (chè gốc Trung Hoa). Điều đó chứng tỏ rằng Hoàng Liên Sơn là trung tâm của nguồn gốc cây trà trên thế giới.

Cây trà đại cổ thụ ở độ cao trên 2400m trên dãy núi Hoàng Liên Sơn

Trước hết, nguồn gốc của cây chè được kiểm tra từ cổ sinh vật học, cổ sinh vật học và cổ sinh vật học. Sau khi hình thành trái đất, nó đã phát triển nhiều lần. Sự phân bố các đại dương và đất đai của nó không giống như trạng thái hiện tại của trái đất. Tất nhiên, khí hậu của trái đất không phải là trạng thái hiện tại.

Theo lịch sử địa chất của núi Hoàng Liên Sơn khoảng 250 triệu năm trước, vào thời khoảng giáp ranh của hai kỷ Permi – Trias của đại Cổ sinh (Paleozoi) và đại Trung sinh (Mesozoi). Trải qua hàng triệu năm kiến tạo, địa chất ở đây gồm các đá trầm tích biến chất và sự xâm nhập của đá granite chạy dọc thung lũng Mường Khoa ở phía Tây Nam, phía Đông Bắc có nhiều đá cẩm thạch và đá vôi, trên mặt còn lưu giữ nhiều nét chạm khắc của những người cổ xưa đầy bí ẩn mà cho đến nay các nhà khoa học vẫn chưa giải mã hết được những hình vẽ cũng như các chữ viết trên đó.

Khí hậu ở đây mang đậm nét khí hậu ôn đới núi cao, nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 15,3 độ C, về mùa Đông xuất hiện mưa tuyết và băng giá trên các đỉnh núi cao.

Hệ động thực vật ở núi Hoàng Liên Sơn rất đa dạng, phong phú và độc đáo nhất Việt Nam, trong đó có nhiều loài chỉ còn tìm thấy ở núi Hoàng Liên Sơn mà không có ở bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam.

Các nhà khoa học chia núi Hoàng Liên Sơn thành 3 loại rừng: Rừng xanh trên vùng bán sơn địa; Rừng lá rụng trên núi nhiệt đới và Rừng xanh thấp lùn trên cao. Theo sự phân loại này, núi Hoàng Liên Sơn nằm ở ngã ba của ba quần xã sinh vật, có sự hòa trộn phức tạp của hệ thực vật khu vực núi cao vùng Đông Nam Á, không giống bất kỳ khu vực nào trên thế giới.

Tại đây, thống kê được 2.024 loài thực vật thuộc 171 chi nằm trong 200 họ, chiếm 25% các loài thực vật đặc hữu của Việt Nam; 66 loài thú; 61 loài bò sát; 553 loài côn trùng; 347 loài chim.

Có thể nói, núi Hoàng Liên Sơn là kho tàng gene quý hiếm và là Trung tâm đa dạng sinh học bậc nhất của Việt Nam, trong số 701 loài đặc hữu của Bắc bộ thì có 22 loài tìm thấy ở núi Hoàng Liên Sơn.

Đặc biệt có 9 họ và 1 chi chỉ tìm thấy ở Hoàng Liên. Nhiều loài động thực vật ở núi Hoàng Liên Sơn thuộc loài đặc biệt quý hiếm đã được ghi vào Sách đỏ Việt Nam.

Thực vật có: Bách Xanh, Thiết xam, Thông tre, Thông đỏ, Đinh tùng Vân Nam, Dẻ tùng. Chim có: đại bàng đốm to, dẽ giun, hét nhỏ, hét mào đỏ, khướu lửa, trĩ mào đỏ, diệc cổ hung. Thú có: vượn đen, gấu đen châu Á, khỉ mặt đỏ.

Cuối năm 2018, tạp chí National Geographic của Mỹ đã công bố Top 28 Điểm đến hấp dẫn nhất thế giới năm 2019.

Hoàng Liên Sơn, đoạn tận cùng phía Đông Nam của dãy núi Himalaya nằm ở khu vực Tây Bắc của Việt Nam được tạp chí National Geographic xếp thứ bảy trong bảng xếp hạng này, đồng thời được bình chọn là điểm đến thú vị nhất khu vực Đông Nam Á.

Còn về việc cây trà cũng xuất hiện và phát triển ở đây? Nó có thể được xác minh bằng cách kiểm tra các cây liên quan của nó.

Các cây liên quan của cây trà là một cơ sở quan trọng để chứng minh nguồn gốc của cây trà. Hoàng Liên Sơn ở đây mang đậm nét khí hậu ôn đới núi cao, nhiệt độ không khí trung bình hàng năm 15,3 độ C. Đất thịt đỏ được phát triển dưới tác động của rừng lá rộng thường xanh đã có từ năm đến sáu ngàn năm và là một trong những loại đất lâu đời nhất trên thế giới. Đây là một điều kiện tuyệt vời cho sự phát triển phylogenetic của cây theaceae hình thành thực vật hạt kín. Do đó, có nhiều cây liên quan chặt chẽ trong cây Hoàng Liên Sơn, được gọi là Hoàng Liên Sơn Camellia. Theo phân loại thực vật, có hơn 380 loài thuộc họ Trà 23, trong đó có hơn 260 loài phân bố ở Việt Nam, hầu hết trong số đó cũng phân bố ở dãy núi Hoàng Liên Sơn, theo khảo sát độc lập của Tập đoàn Thiên Vân Sơn, chỉ có một tỉnh Lào Cai, Theo kết quả khảo sát về tài nguyên cây chè hoàng liên sơn của công ty cổ phần Tập Đoàn Thiên Vân Sơn, thuộc nhóm Camellia của World Tea Group, theo phân loại của Camellia: World Tea Group 37 loài và 3 biến thể đã được phát hiện, và 36 loài và 3 biến thể được phân phối ở Việt Nam. Trong số đó, 31 loài và hai biến thể được phân phối ở dãy Hoàng Liên Sơn, và 17 loài mới và 1 biến thể có mặt. Nhiều họ hàng của cây trà ở Hoàng Liên Sơn có thể được gọi là vương miện của thế giới, điều này chứng minh đầy đủ rằng Hoàng Liên Sơn là trung tâm của nguồn gốc cây trà.

Lịch sửa phát triển ngành trà ở vùng trà Hoàng Liên Sơn

Cội nguồn trà việt nhìn từ góc độ thổ cương, thổ địa cội nguồn trà việt qua truyền thuyết và tư liệu lịch sử qua thư tịch cổ, qua vùng trà cổ hoang dã, qua những tập tục uống trà, qua di chỉ khảo cổ cho chúng ta thấy người Việt biết uống trà và có một nền văn hóa trà sâu xa từ thời Hùng Vương (2879-257 TCN) [1]. Nó phát triển mạnh mẽ vào thời nhà Đinh, qua đời Lý-Trần thì văn hóa trà của Việt Nam tiến một bước dài qua lĩnh vực triết lý và tâm linh.

Văn bản chỉ cho hậu thế biết chè đã được canh tác thuần dưỡng ở Đại Việt từ rất sớm trong bài thơ tặng Thiền sư Nhật Nam:

“Xếp đá làm giếng mới

Rừng núi tự trồng chè.”

Rõ ràng các sư tăng đã không chỉ dựa vào chè hoang dã, họ đã tự trồng và chủ động canh tác cây chè. Trong Cao Tăng truyện thời Lý-Trần còn đi xa hơn, khẳng định chè đc thương mại hóa là nguồn thu nhập kế sinh chính của giới tăng nhân:

“…Sơn tăng kế chè tam mẫu

Ngư phủ sinh nhai trúc nhất cần.”

Trên thực tế, chắc chắn việc trao đổi buôn bán chè còn diễn ra sớm hơn nhiều, chí ít cũng từ thời người Việt xưa tham gia vào con đường Trà mã cổ đạo huyền thoại.

Giai đoạn thế kỷ 16-18 thời Lê-Trịnh, kinh doanh chè hết sức phát đạt. Sách Vân đài luận ngữ cho biết thu nhập từ chè của chủ vườn thời đó rất khấm khá: “vườn trà 1000 cây thu lợi 300-400 quan/năm”.

Chợ trà thế kỷ XVIII

Đến thế kỷ thứ 18, trà là hàng hóa thông dụng khắp Việt Nam khắp hang cùng ngõ hẻm ngay trong vùng đất mới như miền Nam.

Trong thời đại hưng thịnh, sau khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời năm 1945, ngành công nghiệp trà ở Hoàng Liên Sơn đã nhanh chóng được khôi phục và phát triển. Tính đến năm 1960, Việt Nam xuất cảng 2.000 tấn trà mỗi năm. Đến năm 2007 thì sản lượng trà của Việt Nam đã vượt một triệu tấn, canh tác trên 125.000 hecta. Vào đầu năm 2016, thị trường lớn nhất mua trà Việt Nam là Pakistan chiếm khoảng 1/3 thị phần. Việt Nam cũng là nước xuất cảng trà đứng thứ năm trên thế giới. Nói tóm lại, sự gia tăng diện tích trồng chè và tăng sản lượng chè đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế ở Hoàng Liên Sơn và tăng thu nhập của nông dân trồng chè, đảm bảo cung cấp cho ngành chè và mở rộng xuất khẩu, đặt nền tảng để phát triển.

Bác Hồ với ngành chè Việt Nam

          Một bước tiến có ý nghĩa sâu rộng đối với “bảo tồn lịch sử, quản lý tài nguyên và phát triển kinh tế”. Công ty cổ phần Tập Đoàn Thiên Vân Sơn được thành lập vào ngày 07 tháng 04 năm 2015. Đến năm 2019, Tập Đoàn Thiên Vân Sơn tập trung phát triển, quảng bá thương hiệu trà hoang dã Hoàng Liên Sơn và các loại trà đặc sản của Việt Nam.

Chè là một trong những loại cây trồng chính ở Hoàng Liên Sơn.  Các điều kiện tự nhiên của Hoàng Liên Sơn rất phù hợp với trà. Đây là trung tâm nguồn gốc của các cây trà trên thế giới và giàu các giống cây chè. Các loài lá lớn, các loài lá trung và các loài lá nhỏ có các giống chè chất lượng, đặc biệt là các loài lá lớn, có các giống tuyệt vời và chất lượng cao. Do đó, sự lên xuống của ngành công nghiệp chè rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của các tỉnh thuộc vùng trà Hoàng Liên Sơn.

Hoàng Liên Sơn có điều kiện tự nhiên vượt trội và có lịch sử sản xuất chè lâu đời. Đây là trung tâm xuất xứ của các cây trà trên thế giới. Trong những năm dài, nó đã trải qua thăng trầm. Kể từ khi bước vào thời kỳ kinh tế thị trường, rất nhiều công việc đã được thực hiện trong việc hỗ trợ sản xuất, cải tiến công nghệ, tăng cường mua lại và phát triển thị trường bán hàng trong và ngoài nước. Do đó, sản xuất đã được phát triển, sự phổ biến của trà Hoàng Liên Sơn đã được cải thiện, và nó đã đóng góp tích cực cho sự thịnh vượng của nền kinh tế các tỉnh thuộc vùng trà Hoàng Liên Sơn. Đặc biệt là sau khi thành lập Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sản xuất chè đã phát triển nhanh chóng và trở thành một trong ba cây trồng kinh tế chính ở vùng trà Hoàng Liên Sơn, chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc gia.

Nguồn Thiên Vân Sơn TH

———————————————————————-

[1] Đại Việt sử ký toàn thư – NCQB năm Chính hòa 18 (1697), NXB Khoa học Xã hội, 1993