Tìm hiểu các thuật ngữ đánh giá trà sau đây và trở thành một người uống trà lâu năm sau 1 giây!

Khi tôi nhìn thấy câu hỏi này, điều đầu tiên tôi nghĩ đến là nhìn thấy bầu trời phản chiếu bởi ánh hoàng hôn, có người cảm nhận “mây bay trên sườn núi, sắc thu êm ả”, có người cảm nhận “nhẹ nhàng, quý phái”.

Nếu điều này chưa khiến bạn cảm nhận được sức hấp dẫn của ngôn ngữ chuyên nghiệp, hãy xem cảnh uống trà mà bạn có thể đã trải qua.

Một đám người đang ngồi quây quần bên bàn trà ngon, có người thốt lên: “Nước trà của trà này mượt như lụa, đặc sệt, ngọt thanh, sau khi nuốt xuống êm ái, đáy lưỡi như suối, vị ngọt. Vào sâu trong cổ họng, có trà đọng lại ở cổ họng. ”Có người chỉ có thể thốt lên:“ Trà ngon, Trà ngon”.

Lấy hai ví dụ trên, điều tôi muốn nói là khi diễn ngôn thông thường kết hợp các thuật ngữ chuyên môn, mọi thứ sẽ khác.

Chỉ nói về việc nếm trà. Một số người đã uống trà hơn mười năm và không thể biết tại sao và ngon ở đâu, trong khi một số người có thể sử dụng biệt ngữ riêng cho trà để nói một loại trà để khiến người đó cảm thấy rằng người này biết rõ về trà và rất chuyên nghiệp.

Biết thuật ngữ khi nếm trà không phải để bản thân nói nhiều hơn, mà là để hiểu rõ hơn về loại trà trên tay khi nếm trà, và để có thể uống được sự khác biệt trong chi tiết của các loại trà khác nhau.

Đồng thời, khi thưởng trà cùng bạn bè, đối tác làm ăn sẽ có thêm nhiều buổi trà đàm tâm sự, cùng với hương thơm của trà, tìm ra cách thưởng trà tốt hơn.

Nếu bạn chưa quen với trà, sau khi hiểu được thuật ngữ nếm trà, bạn sẽ thấy việc nếm trà dễ dàng hơn rất nhiều.

Các yêu cầu của việc thưởng trà là gì:

Từ việc đánh giá cao màu sắc của chè khô và nước chè, đến ngửi hương thơm của chè, nếm thử hương vị, cảm nhận sự cộng hưởng của nước chè và cánh chè, đến việc nhìn vào đáy lá sẽ có những thuật ngữ tương ứng:

Nếm trà: Nếm trà là một trải nghiệm tuyệt vời, thỏa mãn các giác quan của thị giác, khứu giác, vị giác và cảm giác, thường được sử dụng để mô tả ” trà mạnh và trà yếu”

Chất lượng trà (Nội chất trà): Đề cập đến sự đầy đặn của nước súp trong miệng. Bao gồm độ mịn, độ ngọt, nền và khả năng kháng nước, thường được biểu thị bằng “độ dày”, “độ nặng, độ nhẹ”

Hương thơm: là hương thơm được tạo ra trong quá trình pha trà, được chia thành: giàu hương (mô tả trà phong phú nhiều hương vị), trội hương (mô tả một số mùi vị quá mạnh trong nước trà), mỏng hương (môt tả mùi hương ban đầu rất dễ bay và giảm nhanh).

Đầy đặn: Đề cập đến sự phong phú của nước súp và sự đầy đặn mà nó mang lại cho miệng.

Vần họng: Sau khi nếm trà mang lại cảm giác nơi cổ họng như ngọt, ẩm và đóng cổ họng. Đối với nhiều bạn trà, vần cổ họng là điều kiện quan trọng để làm nên chất lượng của trà. Trà có vần mạnh, hầu hết thuộc về trà có nhiều vị ngọt.

Khí trà: Nó được tạo ra bởi sự kết hợp của germanium hữu cơ và polysaccharid trong trà và hòa tan trong nước. Trà khí rất dễ xuất hiện ở trà già, thường có biểu hiện như nấc cụt, cơ thể nóng lên, sốt, ra mồ hôi nhẹ v.v.

Mùi khói: Được hình thành trong quá trình sao trà, nó mùi thơm của lửa,  theo thời gian nó sẽ bay hơi và biến đổi để tạo ra mùi thơm khác.

Vị chua trái cây: khi nếm súp trà có vị umami giống như trái cây chua tươi.

Vị chua: Quá trình sao chưa được khô, độ ẩm quá cao trong quá trình bảo quản.

Vị đắng và se: Vị đắng là một vị, và se là một cảm giác. Vị đắng được tạo ra bởi theophylline có trong trà, và sự se lại là biểu hiện của sự hội tụ của các mô mỏng manh trong miệng.

Hậu vị dài/ngắn: mùi vị lưu lại lâu/mau trong khoang miệng sau khi nếm thử

Hồi vị: Như tên của nó, vị ngọt là quá trình mà vị đắng được chuyển hóa thành vị ngọt trong miệng. Đây là một loại trải nghiệm vị giác xuất hiện trong quá trình thưởng thức trà, đặc biệt là trong quá trình thưởng thức trà hoang dã Hoàng Liên Sơn và trà hoang dã Tây Côn Lĩnh, bởi vì hầu hết các loại trà này vốn dĩ đã có vị đắng đậm, sau khi hết đắng sẽ xuất hiện vị ngọt trong miệng, hiện tượng này gọi là hồi vị.

Khóa họng: Sau khi uống trà, cổ họng quá khô, khó nuốt, ngứa ngáy khó chịu và các cảm giác khó chịu khác, người sẽ cảm thấy bồn chồn, bứt rứt, v.v.

Hội tụ: Màng được hình thành do phản ứng của polyphenol trong trà với protein trong khoang miệng không thấm nước, đó là hiệu suất của quá trình làm se và sự co lại do làm se là cái mà chúng ta thường gọi là làm se.

Dịch trà: dùng để chỉ hiện tượng nước bọt tiết ra trong miệng, bao gồm má, bề mặt lưỡi và đáy lưỡi. Dịch cơ thể trong miệng có thể làm dịu cơn khát, thư giãn và giữ ẩm cho miệng. Khi uống trà, trong miệng và lưỡi sẽ xuất hiện các bong bóng nhỏ, dịch thường sẽ tiết ra sau khi uống trà chất lượng tốt.

Nước trà: Dùng để chỉ những cảm giác khác nhau mà nước trà đưa vào miệng như: trơn, mượt, sinh động, gắt, dày, mỏng và sắc.

Biểu hiện thứ bậc: Đề cập đến thứ tự xuất hiện của hương vị. Hương thơm và vị của súp trà thay đổi trong miệng. Đó cũng là biểu hiện cụ thể cho sự phong phú của trà.

Mùi nước: Hiện tượng sao trà hoặc bảo quản không đúng cách. Khi nước trà đi vào cổ họng, thứ đọng lại trong miệng không phải là hương vị của trà, mà là độ ẩm.